VĂN BẢN PHÁP LUẬT THAM CHIẾU:
· Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005;
· Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005;
· Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp;
· Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ;
· Thông tư của Bộ Khoa học và Công nghệ số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14 tháng 02 năm 2007 hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp.
Ý KIẾN PHÁP LÝ:
Theo quy định tại Điều 88 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý của Việt Nam thuộc về Nhà nước. Nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, tổ chức tập thể đại diện cho các tổ chức, cá nhân đó hoặc cơ quan quản lý hành chính địa phương nơi có chỉ dẫn địa lý thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý. Theo Điều 8 Nghị định số 103/2006/NĐ-CP thì cá nhân, tổ chức nước ngoài là chủ thể quyền đối với chỉ dẫn địa lý theo quy định pháp luật của nước xuất xứ có quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý đó tại Việt Nam.
Lưu ý: Người thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý của Việt Nam không trở thành chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý đó. Chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý của Việt Nam là Nhà nước Việt Nam. Nhà nước trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý cho tổ chức, cá nhân tiến hành việc sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý tại địa phương tương ứng và đưa sản phẩm đó ra thị trường. Nhà nước trực tiếp thực hiện quyền quản lý chỉ dẫn địa lý hoặc trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý cho tổ chức đại diện quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý.
Đây là sản phẩm của Văn phòng luật sư Lê & Lê và Công ty Cổ phần Vietnamnet Truyền thông Quốc tế hợp tác cung cấp. Ý kiến pháp lý nêu trên chỉ giải đáp cho câu hỏi cụ thể trên mà không phải là tư vấn pháp lý cho trường hợp cụ thể của riêng người sử dụng. Do sự thay đổi thường xuyên và tính phức tạp của các văn bản pháp luật, sự khác nhau về các sự kiện pháp lý của mỗi trường hợp cụ thể, người sử dụng cần tham khảo ý kiến các chuyên gia pháp lý của mình hoặc các luật sư của Văn phòng luật sư Lê & Lê để được tư vấn cụ thể hơn.
Quyền tác giả đối với Ý kiến pháp lý nêu trên, trừ những nội dung trích nguyên văn quy định của pháp luật, thuộc sở hữu của Văn phòng luật sư Lê & Lê. Mọi hành vi sao chép, sử dụng Ý kiến pháp lý này phải được sự đồng ý của Văn phòng luật sư Lê & Lê.